0986 395 979

Tag

Bộ Giao thông Vận tải Archives | Công ty TNHH Vận Tải TMDV Phượng Hoàng

Bộ Giao thông vận tải: Dự kiến ký kết với nhà đầu tư chiến lược của ACV trong tháng 3/2017

By | Thông Tin Vận Tải, Tin Tức | No Comments

Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đánh giá năm vừa qua công tác tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thuộc Bộ tiếp tục được triển khai hiệu quả; nhất là đối với các Tổng công ty lớn và các đơn vị sự nghiệp công.

Bộ Giao thông vận tải: Dự kiến ký kết với nhà đầu tư chiến lược của ACV trong tháng 3/2017

Cụ thể, theo báo cáo công tác năm 2016, Bộ GTVT đang triển khai thực hiện cổ phần hóa đối với 4 công ty mẹ – Tổng công ty gồm: TCT Đầu tư và phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), TCT Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cửu Long (Cửu Long), TCT Hàng hải Việt Nam, TCT Công nghiệp tàu thủy; cùng với đó là 8 công ty con thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy.

Bộ đã phối hợp với các bộ, ngành, báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong quá trình cổ phần hóa; đã hoàn thành cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Vận hành Bảo trì đường cao tốc thuộc VEC.

Đối với 2 doanh nghiệp quy mô lớn là Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) và Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), Bộ GTVT đã tập trung chỉ đạo việc đàm phán với nhà đầu tư chiến lược là các tập đoàn quốc tế, có năng lực, kinh nghiệm, cam kết hỗ trợ toàn diện cho doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Đến nay, Bộ đã hoàn thành đàm phán, ký kết hợp đồng cổ đông chiến lược của VNA với hãng All Nippon Airways, Nhật Bản; đang tích cực đàm phán với Tập đoàn Aeróports de Paris, nhà đầu tư chiến lược của ACV, dự kiến ký kết các hợp đồng, hoàn tất giao dịch trong tháng 3/2017.

Bên cạnh đó, thực hiện quy định pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về giao dịch, niêm yết chứng khoán, nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch và tạo kênh huy động vốn, Bộ GTVT đã chỉ đạo các doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa lập kế hoạch và thực hiện giao dịch cổ phiếu trên sàn giao dịch. Đến nay, đã có 37 công ty cổ phần thực hiện giao dịch, niêm yết cổ phiếu với tổng giá trị chứng khoán theo mệnh giá là trên 35.000 tỷ đồng.

Bộ đã hoàn thành việc chuyển giao quyền đại diện sở hữu nhà nước tại Tổng công ty Thăng Long – CTCP và 8 Công ty cổ phần Quản lý bảo trì đường thủy nội địa với tổng giá trị vốn Nhà nước trên 140 tỷ đồng về SCIC.

Đối với 3 Tổng công ty: Cienco 5, Cienco 8, Xây dựng đường thủy và Công ty Tracimexco, Bộ đang phối hợp với SCIC thẩm định hồ sơ chuyển giao.

Tính chung cả năm 2016, Bộ GTVT đã hoàn thành thoái vốn tại 22 công ty cổ phần, giá trị thu về đạt 2.301,7 tỷ đồng; toàn bộ số tiền thu được sau khi trừ chi phí đã được nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp theo quy định; các công ty mẹ – Tổng công ty thuộc Bộ đã thoái vốn tại 17 doanh nghiệp, thu về 262 tỷ đồng, bằng 214,7% giá trị mệnh giá.

Theo kế hoạch năm 2017, Bộ GTVT sẽ tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu doanh nghiệp đã được phê duyệt, trên cơ sở thực tiễn, tiến hành rà soát, điều chỉnh cho phù hợp, nhằm mục tiêu phát huy vai trò chủ đạo của DNNN.

Đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ, tạo sự hấp dẫn để thu hút được các nguồn lực từ xã hội, phát triển các lĩnh vực trọng yếu, phục vụ phát triển nền kinh tế. Trong đó, tăng cường thoái vốn tại các DNNN không cần giữ chi phối hoặc không cần nắm giữ cổ phần.

Xây dựng, quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định và tổ chức triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu các DNNN, doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Bộ giai đoạn 2016-2020 sau khi Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020” được Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Tăng cường giám sát, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Tổng hợp các nội dung báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chủ trương triển khai, thực hiện cổ phần hóa 17 đơn vị chuyển tiếp từ năm 2016.

Các công tác khác là phê duyệt phương án và tổ chức thực hiện thoái vốn nhà nước tại 7 công ty cổ phần đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Tiếp tục chỉ đạo các Tổng công ty: Đường sắt Việt Nam, Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc, miền Nam; Hàng hải Việt Nam, Hàng không Việt Nam, Cửu Long, VEC thoái vốn nhà nước ở các lĩnh vực không thuộc diện Nhà nước phải nắm giữ.

Đẩy mạnh công tác giám sát hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao vai trò người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Thành lập Ủy ban Điều phối Giao thông vận tải Á – Âu

By | Tin Tức | No Comments

Từ ngày 05 – 09/12/2016, nhận lời mời của Bộ Giao thông vận tải Liên bang Nga và Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP), đoàn công tác do Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường dẫn đầu đã sang Liên bang Nga tham dự Hội nghị Bộ trưởng GTVT UNESCAP và làm việc với lãnh đạo Bộ GTVT Nga.

Trưởng đoàn các nước tham dự Hôi nghị Bộ trưởng GTVT ESCAP

Tham dự Hội nghị Bộ trưởng Bộ GTVT các nước thành viên UNESCAP có Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ GTVT của 32 quốc gia trong khu vực châu Á;  nhiều tổ chức quốc tế cũng đã cử lãnh đạo tham dự. Chủ toạ hội nghị về phía Nga có Ngài Maxim Solokov, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Liên bang Nga và Bà Shamshad Akhtar Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc kiêm Giám đốc Điều hành ESCAP.

Đoàn công tác Bộ GTVT Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng GTVT ESCAP

Tại Hội nghị, các Bộ trưởng đã thông qua tuyên bố chung, theo đó thống nhất: Thông qua chương trình khu về kết nối GTVT bền vững khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giai đoạn 2017 – 2021; Mẫu Hiệp định khu vực về tạo thuận lợi đường bộ quốc tế; Mẫu hiệp định song phương về vận tải đường bộ quốc tế; Mẫu giấy phép liên vận đa biên về vận tải đường bộ quốc tế; Mô hình tiêu chuẩn về hệ thống thông tin logistics; và Mục tiêu An toàn giao thông khu vực châu Á – Thái Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020.

Một trong những điểm mới mà các Bộ trưởng đã thống nhất tại Hội nghị này đó là việc hình thành Ủy ban Điều phối GTVT giữa châu Á và châu Âu. Tổ chức này được thành lập dưới sự bảo trợ của UNESCAP, có nhiệm vụ nghiên cứu, điều phối và khuyến nghị các chính sách, công ước, điều ước quốc tế giúp hoạt động vận tải qua biên giới giữa các nước Á – Âu được thuận lợi, góp phần thúc đẩy thương mại, kinh tế và du lịch.

Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường phát biểu tham luận tại Hội nghị Bộ trưởng GTVT ESCAP

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường đã có bài tham luận với chủ đề “Giao thông vận tải là chìa khóa cho sự phát triển bền vững và hội nhập khu vực”, trong đó đề cập tới tình hình kết nối hệ thống giao thông của Việt Nam với các nước láng giềng và các nước trong khu vực thông qua Hệ thống đường bộ châu Á và Hệ thống đường sắt xuyên Á; Việc thực hiện các Hiệp định vận tải tạo thuận lợi vận tải liên quốc gia, chia sẻ các định hướng của Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư tư nhân để phát triển cơ sở hạ tầng GTVT cũng như giải quyết các vấn đề phát triển bền vững và an toàn giao thông. “Việt Nam mong muốn nhận được sự hỗ trợ của các nước và các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi kinh nghiệm, xây dựng chính sách và nguồn vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng giao thông cũng như vấn đề về an toàn giao thông đường bộ, ứng phó với biến đổi khí hậu; đào tạo nhân lực về nghiệp vụ logistics trong vận tải hàng hóa đường sắt quốc tế”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường trao đổi với lãnh đạo TCT Đường sắt Nga
bên lề Hội nghị Bộ trưởng GTVT ESCAP

Chiều ngày 08/12/2016, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường đã có buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ GTVT Nga Nikolay Asaul để trao đổi về tình hình hợp tác GTVT giữa hai nước.

Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường làm việc với lãnh đạo Bộ GTVT Nga

Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường cảm ơn đồng nghiệp Nga về lòng mến khách dành cho đoàn đại biểu Việt Nam cũng như đánh giá cao công tác chuẩn bị chu đáo của nước chủ nhà đối với hai Hội nghị lớn: Hội nghị Bộ trưởng GTVT UNESCAP và Hội nghị Bộ trưởng GTVT ASEAN – Nga (sẽ diễn ra ngày 09/12/2016).

Hai bên thống nhất ghi nhận quan hệ giữa hai Bộ đang được ngày càng củng cố, phát triển và cho rằng quan hệ song phương về GTVT cần được tiếp tục thúc đẩy xứng tầm với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga. Hai bên thống nhất giao Cục Hàng không hai nước phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy hoạt động vận tải hàng không để đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng cao của nhân dân, đặc biệt là khách du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và Nga. Hai bên cũng thống nhất thúc đẩy các dự án đường sắt, trong đó có dự án đường sắt Hồ Chí Minh – Lộc Ninh – Phnom Penh. Phía Nga cho biết trong năm 2017, Bộ trưởng Bộ GTVT Nga sẽ dẫn đầu đoàn công tác sang thăm và làm việc tại Việt Nam để có trao đổi cụ thể về các dự án hợp tác này.

Buổi làm việc đã diễn ra trong bầu không khí cởi mở, hữu nghị và hợp tác. Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường đã gửi lời cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt của Bộ GTVT Nga và chụp ảnh lưu niệm với Thứ trưởng Nikolay Asaul.

Nghị định 86/2014/NĐ-CP kinh doanh điều kiện kinh doanh vận tải

By | Thông Tin Vận Tải | No Comments

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về kinh doanh, điều kiện kinh doanh và việc cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc liên quan đến kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi; bao gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp.

2. Kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ vận tải và thu cước phí vận tải trực tiếp từ khách hàng.

3. Kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vừa thực hiện công đoạn vận tải, vừa thực hiện ít nhất một công đoạn kháctrong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ và thu cước phí vận tải thông qua doanh thu từ sản phẩm hoặc dịch vụ đó.

4. Đơn vị kinh doanh vận tải là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

5. Tuyến cố định là tuyến vận tải hành khách được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công bố, được xác định bởi hành trình, bến đi, bến đến (điểm đầu, điểm cuối đối với xe buýt) phù hợp với quy hoạch mạng lưới tuyến được phê duyệt.

6. Vận tải người nội bộ là hoạt động vận tải do các đơn vị sử dụng loại xe ô tô chở người từ 09 chỗ ngồi trở lên để định kỳ vận chuyển cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hoặc học sinh, sinh viên của mình từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc học tập và ngược lại.

7. Vận tải trung chuyển hành khách là hoạt động vận tải do các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định tổ chức để đón hành khách đến bến xe, điểm đón, trả khách theo tuyến hoặc ngược lại.

8. Trọng tải thiết kế của xe ô tô là số người và khối lượng hàng hóa tối đa mà xe ô tô đó được chở theo quy định của nhà sản xuất.

9. Trọng tải được phép chở của xe ô tô là số người và khối lượng hàng hóa tối đa mà xe ô tô đó được phép chở, nhưng không vượt quá trọng tải thiết kế của phương tiện, khi hoạt động trên đường bộ theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

10. Người điều hành vận tải là người đại diện theo pháp luật của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc được người đại diện theo pháp luật của đơn vị kinh doanh vận tải giao nhiệm vụ bằng văn bản trực tiếp phụ trách hoạt động kinh doanh vận tải.

11. Bến xe ô tô khách (bến xe khách) là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô đón, trả hành khách và các dịch vụ hỗ trợ vận tải hành khách.

12. Bến xe ô tô hàng (bến xe hàng) là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô vận tải hàng hóa xếp, dỡ hàng hóa và các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động vận tải hàng hóa khác theo quy định.

13. Trạm dừng nghỉ là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ người và phương tiện dừng, nghỉ trong quá trình tham gia giao thông trên đường bộ.

Chương II

QUY ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

Điều 4. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định

1. Doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp Giấy phép kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô được đăng ký khai thác trên tuyến trong quy hoạch và được cơ quan quản lý tuyến chấp thuận.

2. Tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh có cự ly từ 300 ki lô mét trở lên phải xuất phát và kết thúc tại bến xe khách từ loại 1 đến loại 4 hoặc bến xe loại 5 thuộc địa bàn huyện nghèo theo quy định của Chính phủ.

3. Nội dung quản lý tuyến bao gồm:

a) Xây dựng, công bố và thực hiện quy hoạch mạng lưới tuyến;

b) Xây dựng và công bố biểu đồ chạy xe trên tuyến, công bố tuyến đưa vào khai thác, chấp thuận khai thác tuyến, điều chỉnh tần suất chạy xe;

c) Theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động vận tải của các doanh nghiệp, hợp tác xã, bến xe trên tuyến; thống kê sản lượng hành khách, dự báo nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến;

d) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về quản lý hoạt động kinh doanh vận tải theo tuyến đúng quy định.

4. Doanh nghiệp, hợp tác xã phải ký hợp đồng với đơn vị kinh doanh bến xe khách và tổ chức vận tải theo đúng phương án khai thác tuyến đã được duyệt; được đề nghị tăng, giảm tần suất, ngừng khai thác trên tuyến theo quy định.

5. Đơn vị kinh doanh bến xe khách cung cấp các dịch vụ hỗ trợ vận tải cho doanh nghiệp, hợp tácxã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định; kiểm tra và xác nhận điều kiện đối với xe ô tô và lái xe trước khi cho xe xuất bến.

Điều 5. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt

1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt được thực hiện trên tuyến cố định, theo biểu đồ chạy xe phù hợp với quy hoạch mạng lưới tuyến vận tải hành khách bằng xe buýt được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

2. Tuyến xe buýt không được vượt quá phạm vi 02 tỉnh liền kề; trường hợp điểm đầu hoặc điểm cuối của tuyến xe buýt thuộc đô thị loại đặc biệt thì không vượt quá phạm vi 03 tỉnh, thành phố.

3. Tuyến xe buýt có các điểm dừng đón, trả khách. Khoảng cách tối đa giữa hai điểm dừng đón, trả khách liền kề trong nội thành, nội thị là 700 mét, ngoại thành, ngoại thị là 3.000 mét.

4. Giãn cách thời gian tối đa giữa các chuyến xe liền kề là 30 phút đối với các tuyến trong nội thành, nội thị; 60 phút đối với các tuyến khác; thời gian hoạt động tối thiểu của tuyến không dưới 12 giờ trong một ngày; riêng các tuyến xe buýt có điểm đầu hoặc điểm cuối nằm trong khu vực cảng hàng không hoạt động theo lịch trình phù hợp với thời gian hoạt động của cảng hàng không.

5. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thống nhất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan phê duyệt, công bố quy hoạch mạng lưới tuyến; xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt; công bố tuyến, giá vé (đối với xe buýt có trợ giá) và các chính sách ưu đãi của Nhà nước về khuyến khích phát triển vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn; quy định và tổ chức đặt hàng, đấu thầu khai thác các tuyến xe buýt trong quy hoạch.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Bộ Giao thông vận tải trước khi chấp thuận cho phép hoạt động các tuyến xe buýt có điểm đầu hoặc điểm cuối nằm trong khu vực cảng hàng không.

Điều 6. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi

1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào ki lô mét xe lăn bánh, thời gian chờ đợi.

2. Xe có hộp đèn với chữ “TAXI” gắn cố định trên nóc xe.

3. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, xe taxi phải có thiết bị in hóa đơn kết nối với đồng hồ tính tiền trên xe; lái xe phải in hóa đơn tính tiền và trả cho hành khách.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng quy hoạch phát triển vận tải hành khách bằng xe taxi; quản lý hoạt động vận tải bằng xe taxi, xây dựng và quản lý điểm đỗ cho xe taxi trên địa bàn.

Điều 7. Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng

1. Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải không theo tuyến cố định và được thực hiện theo hợp đồng vận tải bằng văn bản giữa đơn vị kinh doanh vận tải và người thuê vận tải.

2. Khi thực hiện vận tải hành khách theo hợp đồng, lái xe phải mang theo bản chính hoặc bản sao hợp đồng vận tải và danh sách hành khách có xác nhận của đơn vị vận tải (trừ xe phục vụ đám tang, đám cưới).

3. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, đối với xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 10 hành khách trở lên, trước khi thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh vận tải phải thông báo tới Sở Giao thông vận tải nơi cấp Giấy phép kinh doanh vận tải các thông tin cơ bản của chuyến đi bao gồm: Hành trình, số lượng khách, các điểm đón, trả khách, thời gian thực hiện hợp đồng.

4. Ngoài hoạt động cấp cứu người bị tai nạn giao thông, phục vụ các nhiệm vụ khẩn cấp như thiên tai, địch họa theo yêu cầu của lực lượng chức năng, xe ô tô vận chuyển hành khách theo hợp đồng không được đón, trả khách ngoài các địa điểm ghi trong hợp đồng.

5. Không được bán vé, xác nhận đặt chỗ cho hành khách đi xe dưới mọi hình thức.

Điều 8. Kinh doanh vận tải khách du lịch bằng xe ô tô

1. Kinh doanh vận tải khách du lịch là kinh doanh vận tải không theo tuyến cố định được thực hiện theo chương trình du lịch và phải có hợp đồng vận tải khách du lịch bằng văn bản giữa đơn vị kinh doanh vận tải và đơn vị kinh doanh du lịch hoặc lữ hành.

2. Khi thực hiện vận tải khách du lịch, lái xe phải mang theo hợp đồng vận tải khách du lịch hoặc hợp đồng lữ hành (bản chính hoặc bản sao có xác nhận của đơn vị kinh doanh du lịch); chương trình du lịch và danh sách hành khách.

3. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, đối với xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 10 hành khách trở lên, trước khi thực hiện hợp đồng vận tải khách du lịch hoặc hợp đồng lữ hành, đơn vị kinh doanh vận tải phải thông báo tới Sở Giao thông vận tải nơi cấp Giấy phép kinh doanh vận tải các thông tin cơ bản của chuyến đi bao gồm: Hành trình, số lượng khách, các điểm đón, trả khách, thời gian thực hiện hợp đồng.

4. Ngoài hoạt động cấp cứu người bị tai nạn giao thông, phục vụ các nhiệm vụ khẩn cấp như thiên tai, địch họa theo yêu cầu của lực lượng chức năng, xe ô tô vận tải khách du lịch không được đón, trả khách ngoài các địa điểm ghi trong hợp đồng.

5. Không được bán vé, xác nhận đặt chỗ cho hành khách đi xe dưới mọi hình thức.

6. Xe ô tô vận tải khách du lịch được ưu tiên bố trí nơi dừng, đỗ để đón trả khách du lịch, phục vụ tham quan du lịch tại các bến xe, nhà ga, sân bay, bến cảng, khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch, điểm tham quan du lịch, cơ sở lưu trú du lịch theo quy định của Ủy ban nhân dân cấptỉnh.

7. Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch quy định về vận tải khách du lịch bằng xe ô tô và cấp, đổi, thu hồi biển hiệu cho xe ô tô vận chuyển khách du lịch.

Điều 9. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô

1. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải là việc sử dụng xe ô tô có trọng tải từ 1.500 kilôgam trở xuống để vận chuyển hàng hóa và người thuê vận tải trả tiền cho lái xe theo đồng hồ tính tiền gắn trên xe. Mặt ngoài hai bên thành xe hoặc cánh cửa xe đề chữ “TAXI TẢI”, số điện thoại liên lạc, tên đơn vị kinh doanh.

2. Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng:

a) Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng là việc sử dụng xe ô tô phù hợp để vận chuyển các loại hàng mà mỗi kiện hàng có kích thước hoặc trọng lượng vượt quá quy định nhưng không thể tháo rời ra được;

b) Khi vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng lái xe phải mang theo Giấy phép lưu hành do cơ quan có thẩm quyền cấp.

3. Kinh doanh vận tải hàng nguy hiểm là việc sử dụng xe ô tô để vận chuyển hàng hóa có chứa các chất nguy hiểm khi vận chuyển có khả năng gây nguy hại tới tính mạng, sức khỏe con người, môi trường, an toàn và an ninh quốc gia. Kinh doanh vận tải hàng nguy hiểm phải có Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm do cơ quan có thẩm quyền cấp.

4. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ là việc sử dụng xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc để vận chuyển công – ten – nơ.

5. Kinh doanh vận tải hàng hóa thông thường là hình thức kinh doanh vận tải hàng hóa ngoài các hình thức kinh doanh vận tải quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.

6. Đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa phải chịu trách nhiệm việc xếp hàng hóa lên xe ô tô theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

7. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và công bố quy hoạch bến xe hàng, điểm giao nhận hàng hóa tại địa bàn địa phương.

Điều 10. Giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải hàng hóa trong việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt

1. Việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt được thực hiện theo hợp đồng vận tải hoặc theo thỏa thuận giữa người kinh doanh vận tải và người thuê vận tải.

2. Trường hợp trong hợp đồng vận tải không có nội dung quy định về việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt do lỗi của người kinh doanh vận tải hàng hóa và hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường thì người kinh doanh vận tải hàng hóa bồi thường cho người thuê vận tải theo mức 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng Việt Nam cho một kilôgam hàng hóa bị tổn thất, trừ trường hợp có quyết định khác của Tòa án hoặc trọng tài.

Điều 11. Quy định đối với lái xe, người điều hành vận tải và xe ô tô hoạt động kinh doanh vận tải

1. Lái xe kinh doanh vận tải phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

a) Phải được đơn vị kinh doanh vận tải đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định;

b) Phải được khám sức khỏe định kỳ và được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Bộ Y tế;

c) Phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

2. Người điều hành vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Không được đồng thời làm việc tại cơ quan, đơn vị khác;

b) Không phải là lao động trực tiếp lái xe, nhân viên phục vụ trên xe ô tô kinh doanh của đơn vịmình;

c) Được tập huấn theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

3. Xe ô tô hoạt động kinh doanh vận tải phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, xe taxi, xe buýt, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng, xe chở công – ten – nơ, xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc, xe ô tô vận tải hàng hóa phải được gắn phù hiệu; xe ô tô kinh doanh vận tải khách du lịch phải được gắn biển hiệu theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;

b) Xe ô tô phải được bảo dưỡng, sửa chữa và có sổ ghi chép theo dõi quá trình hoạt động theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;

c) Trên xe phải được niêm yết đầy đủ các thông tin theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;

d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về màu sơn của xe taxi trong phạm vi địa phương mình.

4. Đối với những loại xe chưa được gắn phù hiệu trước khi Nghị định này có hiệu lực thì việc gắn phù hiệu được thực hiện theo lộ trình sau đây:

a) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 đối với xe buýt, xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kinh doanh vận tải;

b) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 10 tấn trở lên;

c) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 07 tấn đến dưới 10 tấn;

d) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn đến dưới 07 tấn;

đ) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2018 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn.

Điều 12. Quy định về xây dựng và thực hiện quy trình bảo đảm an toàn giao thông trong hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

1. Đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bến xe khách, bến xe hàng phải xây dựng và thực hiện quy trình bảo đảm an toàn giao thông phù hợp với những loại hình kinh doanh của đơn vị mình theo lộ trình sau đây:

a) Đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, xe buýt, taxi, vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ; bến xe khách: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2015;

b) Đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, khách du lịch; vận tải hàng hóa bằng xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc, xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 10 tấn trở lên; bến xe hàng: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016;

c) Đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 07 tấn đến dưới 10 tấn: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2017;

d) Đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô có trọng tải thiết kế dưới 07 tấn: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.

2. Quy trình bảo đảm an toàn giao thông cần thể hiện rõ các nội dung sau đây:

a) Đối với đơn vị kinh doanh vận tải: Thủ tục kiểm tra điều kiện an toàn giao thông của xe ô tô và lái xe ô tô trước khi thực hiện hành trình kinh doanh vận tải; chế độ bảo dưỡng sửa chữa đối với xe ô tô kinh doanh vận tải; chế độ tổ chức lao động đối với lái xe kinh doanh vận tải; chế độ kiểm tra, giám sát hoạt động của xe ô tô và người lái xe trên hành trình kinh doanh vận tải; phương án xử lý khi xảy ra tai nạn giao thông trong quá trình kinh doanh vận tải; chế độ báo cáo về an toàn giao thông đối với lái xe, người điều hành vận tải;

b) Đối với đơn vị kinh doanh bến xe khách, bến xe hàng: Thủ tục kiểm tra điều kiện an toàn giao thông của xe ô tô, lái xe ô tô, hàng hóa và hành lý của hành khách trước khi xuất bến; chế độ kiểm tra, giám sát hoạt động của xe ô tô và người lái xe trong khu vực bến xe; chế độ báo cáo về an toàn giao thông.

3. Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết về xây dựng, thực hiện quy trình bảo đảm an toàn giao thông trong hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và lộ trình áp dụng quy trình bảo đảm an toàn giao thông đối với bến xe ô tô.

Chương III

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

Điều 13. Điều kiện chung kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

Đơn vị kinh doanh vận tải phải có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật.

2. Phương tiện phải bảo đảm số lượng, chất lượng phù hợp với hình thức kinh doanh, cụ thể:

a) Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải với tổ chức cho thuê tài chính hoặc tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật.

Trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã phải có hợp đồng dịch vụ giữa thành viên với hợp tác xã, trong đó quy định hợp tác xã có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng, điều hành xe ô tô thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã;

b) Xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường;

c) Xe phải được gắn thiết bị giám sát hành trình theo quy định tại Điều 14 Nghị định này.

3. Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe:

a) Lái xe không phải là người đang trong thời gian bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật;

b) Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải theo mẫu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (trừ các trường hợp đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc là bố, mẹ, vợ, chồng hoặc con của chủ hộ kinh doanh);

c) Nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Nhân viên phục vụ trên xe vận tải khách du lịch còn phải được tập huấn về nghiệp vụ du lịch theo quy định của pháp luật liên quan về du lịch.

4. Người điều hành vận tải phải có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cấp trở lên hoặc có trình độ từ cao đẳng trở lên đối với các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật khác và có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 năm trở lên.

5. Nơi đỗ xe: Đơn vị kinh doanh vận tải phải có nơi đỗ xe phù hợp với phương án kinh doanh và đảm bảo các yêu cầu về an toàn giao thông, phòng chống cháy, nổ và vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.

6. Về tổ chức, quản lý:

a) Đơn vị kinh doanh vận tải có phương tiện thuộc diện bắt buộc phải gắn thiết bị giám sát hành trình của xe phải trang bị máy tính, đường truyền kết nối mạng và phải theo dõi, xử lý thông tin tiếp nhận từ thiết bị giám sát hành trình của xe;

b) Đơn vị kinh doanh vận tải bố trí đủ số lượng lái xe theo phương án kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe cho lái xe và sử dụng lái xe đủ sức khỏe theo quy định; đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách có trọng tải thiết kế từ 30 chỗ ngồi trở lên (bao gồm cả chỗ ngồi, chỗ đứng và giường nằm) phải có nhân viên phục vụ trên xe (trừ xe hợp đồng đưa đón cán bộ, công nhân viên, học sinh, sinh viên đi làm, đi học và xe buýt có thiết bị thay thế nhân viên phục vụ);

c) Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, vận tải hành khách bằng xe buýt, vận tải hành khách bằng xe taxi, vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ phải có bộ phận quản lý, theo dõi các điều kiện về an toàn giao thông;

d) Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định, xe buýt, xe taxi phải đăng ký và thực hiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ vận tải hành khách.

Điều 14. Thiết bị giám sát hành trình của xe

1. Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách, xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ, xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc hoạt động kinh doanh vận tải và xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa phải gắn thiết bị giám sát hành trình; thiết bị giám sát hành trình phải đảm bảo tình trạng kỹ thuật tốt và hoạt động liên tục trong thời gian xe tham gia giao thông.

2. Thiết bị giám sát hành trình của xe phải bảo đảm tối thiểu các yêu cầu sau đây:

a) Lưu giữ và truyền dẫn các thông tin theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;

b) Thông tin từ thiết bị giám sát hành trình của xe được sử dụng trong quản lý nhà nước về hoạt động vận tải, quản lý hoạt động của đơn vị kinh doanh vận tải và cung cấp cho cơ quan Công an, Thanh tra khi có yêu cầu.

3. Đối với những loại xe chưa được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trước khi Nghị định này có hiệu lực thì việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình được thực hiện theo lộ trình sau đây:

a) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 đối với xe taxi, xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kinh doanh vận tải;

b) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 10 tấn trở lên;

c) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 07 tấn đến dưới 10 tấn;

d) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn đến dưới 07 tấn;

đ) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2018 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn.

Điều 15. Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định

1. Doanh nghiệp, hợp tác xã có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định này.

2. Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách phải có chỗ ngồi ưu tiên cho người khuyết tật, người cao tuổi và phụ nữ đang mang thai theo lộ trình như sau:

a) Xe ô tô đăng ký khai thác kinh doanh vận tải lần đầu: Thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2016;

b) Xe ô tô đang khai thác: Thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.

3. Xe ô tô có trọng tải được phép chở từ 10 hành khách trở lên phải có niên hạn sử dụng như sau:

a) Cự ly trên 300 ki lô mét: Không quá 15 năm đối với ô tô sản xuất để chở người; từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 không được sử dụng xe ô tô chuyển đổi công năng;

b) Cự ly từ 300 ki lô mét trở xuống: Không quá 20 năm đối với xe ô tô sản xuất để chở người; không quá 17 năm đối với ô tô chuyển đổi công năng trước ngày 01 tháng 01 năm 2002 từ các loại xe khác thành xe ô tô chở khách.

4. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định từ 300 ki lô mét trở lên phải có số lượng phương tiện tối thiểu như sau:

a) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 20 xe trở lên;

b) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 10 xe trở lên; riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 05 xe trở lên.

Điều 16. Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt

1. Doanh nghiệp, hợp tác xã có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 và Khoản 2 Điều 15 Nghị định này.

2. Xe buýt phải có sức chứa từ 17 hành khách trở lên. Vị trí, số chỗ ngồi, chỗ đứng cho hành khách và các quy định kỹ thuật khác đối với xe buýt theo quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Giao thông vận tải ban hành. Đối với hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt trên các tuyển có hành trình bắt buộc phải qua cầu có trọng tải cho phép tham gia giao thông từ 05 tấn trở xuống hoặc trên 50% lộ trình tuyến là đường từ cấp IV trở xuống (hoặc đường bộ đô thị có mặt cắt ngang từ 07 mét trở xuống) được sử dụng xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 12 đến dưới 17 hành khách.

3. Xe buýt phải có niên hạn sử dụng theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 15 Nghị định này; có màu sơn đặc trưng được đăng ký với cơ quan quản lý tuyến, trừ trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quy định cụ thể về màu sơn của xe buýt trên địa bàn.

4. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt phải có số lượng phương tiện tối thiểu như sau:

a) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 20 xe trở lên;

b) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 10 xe trở lên; riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 05 xe trở lên.

Điều 17. Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi

1. Doanh nghiệp, hợp tác xã có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 (trừ Điểm c Khoản 3 Điều 13) Nghị định này.

2. Xe taxi phải có sức chứa từ 09 chỗ ngồi trở xuống (kể cả người lái xe).

3. Xe taxi có niên hạn sử dụng không quá 08 năm tại đô thị loại đặc biệt; không quá 12 năm tại các địa phương khác.

4. Trên xe phải gắn đồng hồ tính tiền được cơ quan có thẩm quyền về đo lường kiểm định và kẹp chì.

5. Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải đăng ký và thực hiện sơn biểu trưng (logo) không trùng với biểu trưng đã đăng ký của đơn vị kinh doanh vận tải taxi trước đó và số điện thoại giao dịch cho các xe thuộc đơn vị.

6. Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có trung tâm điều hành, duy trì hoạt động của trung tâm điều hành với lái xe, đăng ký tần số liên lạc và có thiết bị liên lạc giữa trung tâm với các xe thuộc đơn vị.

7. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có số xe tối thiểu là 10 xe; riêng đối với đô thị loại đặc biệt phải có số xe tối thiểu là 50 xe.

Điều 18. Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, vận tải khách du lịch bằng xe ô tô

1. Đơn vị kinh doanh vận tải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định này.

2. Xe ô tô kinh doanh vận tải khách du lịch có niên hạn sử dụng không quá 15 năm; xe ô tô chuyển đổi công năng không được vận tải khách du lịch.

3. Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng có niên hạn sử dụng theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 3 Điều 15 Nghị định này.

4. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, đơn vịkinh doanh vận tải khách du lịch vận chuyển hành khách trên hành trình có cự ly từ 300 ki lô mét trở lên phải có số lượng xe tối thiểu như sau:

a) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 10 xe trở lên;

b) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 05 xe trở lên, riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 03 xe trở lên.

5. Đơn vị kinh doanh vận tải khách du lịch bằng xe ô tô ngoài các điều kiện quy định tại Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về du lịch có liên quan.

Điều 19. Điều kiện kinh doanh vận tải hàng hóa

1. Đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định này.

2. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2017, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ; đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa sử dụng xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc, xe ô tô vận tải hàng hóa trên hành trình có cự ly từ 300 ki lô mét trở lên phải có số lượng phương tiện tối thiểu như sau:

a) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 10 xe trở lên;

b) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 05 xe trở lên; riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 03 xe trở lên.

Chương IV

CẤP GIẤY PHÉP KINH DOANH VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

Điều 20. Cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

1. Đơn vị kinh doanh vận tải hành khách, đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa phải có Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô (sau đây gọi chung là Giấy phép kinh doanh).

2. Đối với những loại hình kinh doanh vận tải chưa được cấp Giấy phép kinh doanh trước khi Nghị định này có hiệu lực thì việc cấp Giấy phép kinh doanh được thực hiện theo lộ trình sau đây:

a) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 đối với xe đầu kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kinh doanh vận tải (trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ);

b) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 10 tấn trở lên;

c) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 07 tấn đến dưới 10 tấn;

d) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn đến dưới 07 tấn;

đ) Trước ngày 01 tháng 7 năm 2018 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn.

3. Nội dung Giấy phép kinh doanh bao gồm:

a) Tên và địa chỉ đơn vị kinh doanh;

b) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gồm: Số, ngày, tháng, năm, cơ quan cấp;

c) Người đại diện hợp pháp;

d) Các hình thức kinh doanh;

đ) Thời hạn có hiệu lực của Giấy phép kinh doanh;

e) Cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh.

4. Giấy phép kinh doanh có giá trị 07 năm và được cấp lại trong trường hợp Giấy phép kinh doanh bị mất, bị hỏng, có sự thay đổi liên quan đến nội dung của Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh hết hạn. Trường hợp cấp lại do có sự thay đổi liên quan đến nội dung của Giấy phép kinh doanh, thời hạn của Giấy phép kinh doanh mới không vượt quá thời hạn của Giấy phép đã được cấp trước đó.

5. Đơn vị được cấp Giấy phép kinh doanh phải được đánh giá định kỳ về việc duy trì điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

6. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh là Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

7. Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể về mẫu Giấy phép kinh doanh.

Điều 21. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại Giấy phép kinh doanh

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh theo mẫu do Bộ Giao thông vận tải quy định;

b) Bản sao có chứng thực (hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

c) Bản sao có chứng thực (hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu) văn bằng, chứng chỉ của người trực tiếp điều hành vận tải;

d) Phương án kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;

đ) Quyết định thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ của bộ phận quản lý, theo dõi các điều kiện về an toàn giao thông (đối với doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, vận tải hành khách bằng xe buýt, vận tải hành khách bằng xe taxi, vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ);

e) Bản đăng ký chất lượng dịch vụ vận tải (đối với doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, vận tải hành khách bằng xe buýt, vận tải hành khách bằng xe taxi).

2. Hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh do thay đổi nội dung của Giấy phép kinh doanh bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh trong đó nêu rõ lý do xin cấp lại theo mẫu do Bộ Giao thông vận tải quy định;

b) Giấy phép kinh doanh được cấp trước đó;

c) Tài liệu chứng minh sự thay đổi của những nội dung ghi trong Giấy phép kinh doanh quy định tại Khoản 3 Điều 20 Nghị định này (việc thay đổi liên quan đến nội dung nào thì bổ sung tài liệu về nội dung đó).

3. Hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh do hết hạn Giấy phép bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh theo mẫu do Bộ Giao thông vận tải quy định;

b) Giấy phép kinh doanh được cấp trước đó;

c) Phương án kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

4. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép do Giấy phép kinh doanh bị mất hoặc bị hư hỏng bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh theo mẫu do Bộ Giao thông vận tải quy định;

b) Giấy phép kinh doanh bị hư hỏng (đối với trường hợp Giấy phép bị hư hỏng) hoặc văn bản có xác nhận của Công an xã, phường nơi đơn vị kinh doanh vận tải trình báo mất Giấy phép kinh doanh.

Điều 22. Thủ tục cấp, cấp lại Giấy phép kinh doanh

1. Thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh:

a) Đơn vị kinh doanh vận tải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh đến cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh theo đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh.

Trường hợp hồ sơ cần sửa đổi, bổ sung, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh thông báo trực tiếp hoặc bằng văn bản những nội dung cần bổ sung hoặc sửa đổi đến đơn vị kinh doanh vận tải trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đúng theo quy định, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh thẩm định hồ sơ, cấp Giấy phép kinh doanh đồng thời phê duyệt Phương án kinh doanh kèm theo. Trường hợp không cấp Giấy phép kinh doanh thì cơ quan cấp Giấy phép phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;

c) Việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả được thực hiện tại trụ sở cơ quan hoặc qua đường bưu điện.

2. Thủ tục cấp lại Giấy phép kinh doanh đối với trường hợp Giấy phép bị hư hỏng, có sự thay đổi liên quan đến nội dung của Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh hết hạn thực hiện như khi cấp lần đầu.

3. Thủ tục cấp lại Giấy phép kinh doanh đối với trường hợp Giấy phép bị mất:

a) Đơn vị kinh doanh vận tải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy phép kinh doanh đến cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh theo đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh.

Trường hợp hồ sơ cần sửa đổi, bổ sung, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh thông báo trực tiếp hoặc bằng văn bản những nội dung cần bổ sung hoặc sửa đổi đến đơn vị kinh doanh vận tải trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ;

b) Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đúng theo quy định, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh kiểm tra, xác minh, cấp lại Giấy phép kinh doanh. Trường hợp không cấp lại Giấy phép kinh doanh thì cơ quan cấp Giấy phép phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;

c) Việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả được thực hiện tại trụ sở cơ quan hoặc qua đường bưu điện.

Điều 23. Thu hồi Giấy phép kinh doanh

1. Đơn vị kinh doanh vận tải bị thu hồi Giấy phép kinh doanh không thời hạn khi vi phạm một trong các trường hợp sau đây:

a) Cố ý cung cấp thông tin sai lệch trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh;

b) Không kinh doanh vận tải trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh hoặc ngừng kinh doanh vận tải trong thời gian 06 tháng liên tục;

c) Kinh doanh loại hình vận tải không đúng theo Giấy phép kinh doanh;

d) Đã bị thu hồi Giấy phép kinh doanh có thời hạn nhưng khi hết thời hạn thu hồi Giấy phép vẫn không khắc phục được các vi phạm là nguyên nhân bị thu hồi;

đ) Trong 01 năm có 02 lần bị thu hồi Giấy phép kinh doanh có thời hạn hoặc trong thời gian sử dụng Giấy phép kinh doanh có 03 lần bị thu hồi Giấy phép kinh doanh có thời hạn;

e) Phá sản, giải thể;

g) Trong thời gian 01 năm có trên 50% số xe hoạt động mà người lái xe vi phạm luật gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng;

h) Trong thời gian 03 năm có tái phạm về kinh doanh, điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và xảy ra tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2. Đơn vị kinh doanh vận tải bị thu hồi Giấy phép kinh doanh từ 01 đến 03 tháng khi vi phạm một trong các nội dung sau đây:

a) Trong thời gian hoạt động 03 tháng liên tục có trên 20% số phương tiện bị thu hồi phù hiệu, biển hiệu xe kinh doanh vận tải;

b) Có trên 20% số xe ô tô kinh doanh vận tải bị cơ quan chức năng xử lý vi phạm về chở quá tải trọng quy định hoặc trên 20% số xe kinh doanh vận tải bị cơ quan chức năng xử lý vi phạm về bảo đảm điều kiện kỹ thuật của xe;

c) Có trên 10% số lái xe kinh doanh vận tải của đơn vị bị cơ quan chức năng xử lý vi phạm phải tước Giấy phép lái xe có thời hạn;

d) Có trên 10% số lượng xe hoạt động mà người lái xe vi phạm pháp luật gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng trở lên;

đ) Vi phạm về kinh doanh, điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và xảy ra tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

3. Cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh được thu hồi Giấy phép kinh doanh do cơ quan mình cấp và thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Ban hành quyết định thu hồi Giấy phép kinh doanh;

b) Báo cáo Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo quyết định thu hồi Giấy phép kinh doanh đến các cơ quan có liên quan để phối hợp thực hiện;

c) Khi cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh ban hành quyết định thu hồi Giấy phép thì đơn vị kinh doanh phải nộp lại Giấy phép kinh doanh và phù hiệu, biển hiệu cho cơ quan cấp Giấy phép đồng thời dừng toàn bộ các hoạt động kinh doanh vận tải theo Giấy phép đã bị thu hồi ngay sau khi quyết định có hiệu lực.

Chương V

TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 24. Bộ Giao thông vận tải

1. Thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô quy định tại Nghị định này.

2. Quy định về trách nhiệm và xử lý vi phạm trong tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

3. Quy định cụ thể về việc quản lý và cấp phù hiệu cho xe ô tô vận tải trung chuyển hành khách, vận tải hành khách nội bộ; lộ trình và đối tượng đơn vị kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp phải cấp Giấy phép kinh doanh.

4. Tổ chức lập, phê duyệt và công bố quy hoạch mạng lưới tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh; hệ thống các trạm dừng nghỉ trên quốc lộ.

5. Tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

6. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong việc thực hiện các quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan.

Điều 25. Bộ Công an

Kiểm tra và xử lý vi phạm trong việc thực hiện các quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan.

Điều 26. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quy định về vận tải khách du lịch bằng xe ô tô và cấp, đổi, thu hồi biển hiệu cho xe ô tô vận tải khách du lịch.

Điều 27. Bộ Khoa học và Công nghệ

1. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quy định về tính năng kỹ thuật đối với thiết bị giám sát hành trình của xe.

2. Tổ chức thực hiện việc kiểm định đồng hồ tính tiền trên xe taxi.

Điều 28. Bộ Thông tin và Truyền thông

Chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn quản lý việc sử dụng tần số vô tuyến điện, hạ tầng thông tin và cước dịch vụ dữ liệu cho thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô và các thiết bị thông tin, liên lạc khác sử dụng trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 29. Bộ Y tế

1. Ban hành quy định về tiêu chuẩn, việc khám sức khỏe định kỳ và quy định về cơ sở y tế khám sức khỏe của người điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải.

2. Chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người lao động trong các đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 30. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện các quy định về hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ khác của người lao động trong hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

2. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện các quy định của pháp luật về các chế độ, chính sách đối với người khuyết tật, người cao tuổi và các đối tượng chính sách khi sử dụng các dịch vụ vận tải bằng xe ô tô.

Điều 31. Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia

1. Kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và các địa phương thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong kinh doanh vận tải bằng xe ô tô quy định tại Nghị định này.

2. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong kinh doanh vận tải bằng xe ô tô quy định tại Nghị định này để các Bộ, ngành và địa phương tổ chức triển khai thực hiện.

Điều 32. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Hướng dẫn cụ thể mức thu, sử dụng lệ phí cấp Giấy phép kinh doanh và phí, lệ phí khác có liên quan đến hoạt động vận tải đường bộ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

3. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật khác liên quan trên địa bàn địa phương.

Điều 33. Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam

1. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải để xây dựng quy định về chương trình tập huấn cho người  điều hành vận tải, lái xe và nhân viên phục vụ trên xe.

2. Tham gia tập huấn nghiệp vụ đối với người điều hành vận tải, lái xe và nhân viên phục vụ trên xe.

Điều 34. Chế độ kiểm tra thực hiện điều kiện kinh doanh của đơn vị kinh doanh vận tải

1. Đơn vị kinh doanh vận tải chịu sự kiểm tra về việc chấp hành các quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của cơ quan có thẩm quyền.

2. Hình thức kiểm tra:

a) Kiểm tra định kỳ;

b) Kiểm tra đột xuất khi để xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, có khiếu nại, tố cáo hoặc khi có thông tin, dấu hiệu về việc không thực hiện đầy đủ các quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải.

3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh của đơn vị kinh doanh vận tải.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2014 và thay thế Nghị định số 91/2009/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và Nghị định số 93/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 91/2009/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 36. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Bộ Giao Thông Vận Tải nói gì về dự án BOT Quốc lộ 1 lập dự toán “vống” ngàn tỷ?

By | Tin Tức | No Comments

Liên quan đến kết luận Thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về dự án BOT Quốc lộ 1 qua Khánh Hoà lập dự toán “vống” gần 1.300 tỷ đồng, Bộ Giao thông Vận tải vừa có báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong đó khẳng định ​thông tin trên thiếu chính xác và chưa đúng bản chất vấn đề.

Bộ GTVT nói gì về dự án BOT Quốc lộ 1 lập dự toán “vống” ngàn tỷ?

Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1. (Ảnh minh họa: Thế Lập/TTXVN)

Theo kết luận thanh tra số 3626/BKHĐT-TTr, chi phí thực tế tính đến thời điểm thanh tra (27/10/2015) so với chi phí được duyệt trong tổng mức đầu tư dự án chênh lệch giảm 1.282,1 tỷ đồng, chủ yếu là do không phải sử dụng chi phí dự phòng, giảm lãi vay ngân hàng và chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng.

Về chi chi phí xây dựng giảm 18,5 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư,Thanh tra Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng chi phí nhân công có tính phụ cấp 10% không ổn định sản xuất là chưa đúng, làm tăng thêm 28,4 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại văn bản số 2609/BXD-KTXD ngày 05/11/2015, Bộ Xây dựng khẳng định việc tính phụ cấp không ổn định sản xuất là phù hợp đồng thời Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hoà hướng dẫn và ban hành đơn giá xây dựng công trình cũng bao gồm phụ cấp không ổn định sản xuất trong đơn giá nhân công.

Đối với việc sử dụng giá vật liệu, kết luận Thanh tra đưa ra việc dùng giá nhựa đường do địa phương công bố để xác định tổng mức đầu tư đã làm tăng thêm 20 tỷ đồng so với việc sử dụng nhựa đường kho Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) vận chuyển về công trình. Tuy nhiên, phía Bộ Giao thông Vận tải lại viện dẫn việc dùng giá vật liệu theo công bố của địa phương là phù hợp với hướng dẫn của Bộ Xây dựng tại Thông tư số 04/2010/TT-BXD.

“Như vậy, ở đây đang còn có cách hiếu khác nhau giữa các Bộ, ngành về chế độ chính sách,” đại diện Bộ Giao thông Vận tải khẳng định.

Đối với các sai sót, nhầm lẫn khác làm tăng 18,5 tỷ đồng gồm phụ cấp lưu động tính theo lương tối thiểu vùng thay vì phải tính theo lương tối thiểu chung (tăng 11,2 tỷ đồng), nhầm giá vật liệu thép, cước vận chuyển đất đắp và đơn giá cọc khoan nhồi (tăng 7,3 tỷ đồng) liên quan đến trách nhiệm của Tư vấn và Ban Quản lý dự án 7, Bộ Giao thông Vận tải đã yêu cầu kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị, cá nhân liên quan theo quy định.

Trả lời về chi phí giải phóng mặt bằng giảm 201,8 tỷ đồng, theo đại diện Bộ Giao thông Vận tải, dự án phê duyệt quy mô mặt cắt ngang 25,5m các đoạn tuyến qua đô thị. Tuy nhiên, khi triển khai, Bộ Giao thông Vận tải đã chỉ đạo thống nhất, đồng bộ về quy mô mặt cắt ngang các đoạn tuyến qua đô thị trên tất cả các dự án mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa-Cần Thơ, trước mắt đầu tư với quy mô nền đường rộng 20,5m.

“Việc thu hẹp 4m nền đường các đoạn qua đô thị đông dân cư (11,2km/36,1km chiều dài dự án) đã giảm đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng đồng thời Bộ Giao thông Vận tải đã chỉ đạo giảm cao độ thiết kế, phù hợp với cao độ nhà dân hai bên đường để giảm ảnh hưởng đến dân sinh từ đó phạm vi và chi phí giải phóng mặt bằng giảm,” báo cáo Bộ Giao thông Vận tải khẳng định.

Ngoài ra, số liệu chi phí giải phóng mặt bằng tại thời điểm thanh tra (27/10/2015) là chưa đầy đủ, địa phương chưa hoàn tất việc giải ngân chi phí đền bù.

Về chi phí dự phòng chưa sử dụng đến 652,5 tỷ đồng, Bộ Giao thông Vận tải đã xác định chi phí dự phòng khối lượng là 10% (170,3 tỷ đồng) và dự phòng trượt giá 482,1 tỷ đồng. Việc chưa sử dụng dự phòng phí một phần là do giảm quy mô đầu tư, điều chỉnh giảm cao độ thiết kế, rút ngắn tiến độ thực hiện dự án (khoảng 3 tháng), khối lượng công trình xác định tương đối chính xác trong bước lập dự án, phần nữa là do không có biến động lớn về giá cả trong thời gian thực hiện dự án đồng thòi thể hiện việc kiểm soát chi phí tốt của chủ đầu tư và Bộ Giao thông Vận tải.

Đề cập đến khoản chi phí lãi vay giảm 280,9 tỷ đồng, lãnh đạo ngành giao thông cho rằng, khi phê duyệt dự án đầu tư, lãi vay chỉ là tạm tính và sẽ được xác định chính xác khi quyết toán công trình. Trong quá trình thực hiện dự án, lãi suất vay của các ngân hàng thương mại giảm, nhà đầu tư chưa giải ngân hết giá trị thực hiện, chưa sử dụng chi phí dự phòng và chi phí giải phóng mặt bằng giảm nên làm cho chi phí lãi vay giảm so với giá trị xác định trong tổng mức đầu tư.

Bên cạnh đó, báo cáo Bộ Giao thông Vận tải cũng cho rằng, trong hợp đồng BOT đã quy định, chi phí lãi vay sẽ được điều chỉnh, xác định lại phù hợp với thực tế khi lãi suất trung bình năm thực tế tăng, giảm từ 0,5% trở lên nên đảm bảo không có thất thoát hay tăng tổng vốn đầu tư để kéo dài thời gian thu phí.

Đối với hoàn thuế giá trị gia tăng 128,3 tỷ đồng không được tính vào trong tổng mức đầu tư, báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải khẳng định, giá trị hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ được tính toán trong phương án tài chính và Kết luận thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tách khoản hoàn thuế giá trị gia tăng ra khỏi tổng vốn đầu tư là không phù hợp.

Liên quan đến việc xác định tổng mức đầu tư các dự án đầu tư theo hình thức BOT, Bộ Giao thông Vận tải giải thích và quả quyết, tổng mức đầu tư không phải là giá trị thanh toán cho nhà thầu nên không gây thất thoát, lãng phí. Giá trị dự toán xây dựng công trình do doanh nghiệp dự án phê duyệt chỉ có ý nghĩa thanh toán với nhà thầu mà không phải là giá trị dùng để xác định thời gian thu phí hoàn vốn.

Ngoài ra, nhà đầu tư hoàn toàn không được hưởng phần chênh lệch giữa tổng mức đầu tư và dự toán công trình hay nói cách khác là không được hưởng phần chênh lệch thời gian thu phí. Thời gian thu phí hoàn vốn dự án sẽ được xác định, điều chỉnh lại trên cơ sở giá trị quyết toán được Bộ Giao thông thoả thuận theo đúng quy định của hợp đồng BOT đã ký, đảm bảo không có thất thoát, lãng phí hoặc khai tăng tổng mức đầu tư để kéo dài thời gian thu phí.

Từ 1/11: Những biển báo giao thông mới tinh này sẽ bắt đầu có hiệu lực, lái xe nào cũng phải biết

By | Tin Tức | No Comments

Bộ Giao Thông Vận Tải sẽ đưa vào sử dụng nhiều biển báo mới như cấm xe khách, cấm taxi, biển báo tốc độ tối đa về đêm, biển báo chỗ ngoặt nguy hiểm…

Từ 1/11: Những biển báo giao thông mới tinh này sẽ bắt đầu có hiệu lực, lái xe nào cũng phải biết

Theo Thông tư số 06/2016 của Bộ Giao Thông Vận Tải, từ ngày mai 1/11, “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ” mới sẽ được áp dụng, thay thế cho Quy chuẩn cũ năm 2012.

Theo quy chuẩn mới này, hàng loạt biển báo mới sẽ được đưa vào sử dụng.

Xe khách và Taxi sẽ có biển báo cấm riêng. Biển P.107a có hiệu lực cấm xe ô tô khách đi qua, trừ các xe ưu tiên theo quy định. Biển này không cấm xe buýt.

Biển P.107b cấm riêng các xe taxi.

Biển P.127a có ý nghĩa “Tốc độ tối đa cho phép về ban đêm”. Biển này áp dụng cho một số trường hợp qua khu đông dân cư vào ban đêm nhằm mục đích nâng cao tốc độ vận hành khi đường ít xe chạy.

Biển này được đặt sau vị trí biển số R.420 “Đoạn đường qua khu đông dân cư”. Biển chỉ có hiệu lực trong khoảng thời gian ghi trên biển và trong phạm vi từ vị trí đặt biển đến vị trí biển báo R.421 “Hết đoạn đường qua khu đông dân cư”.

Vận tốc trên biển sẽ không vượt quá 80 km/h. Trong phạm vi hiệu lực của biển báo ban đêm, nếu người lái xe gặp biển báo tốc độ tối đa thông thường, thì người lái xe phải tuân thủ theo tốc độ tối đa thông thường.

Biển P.127b quy định tốc độ tối đa cho phép trên từng làn đường, xe chạy trên làn nào phải tuân thủ tốc độ tối đa cho phép trên làn đường đó.

Biển P.127c quy định tốc độ tối đa cho phép theo phương tiện trên từng làn đường. Các phương tiện vừa phải đi đúng làn đường vừa phải tuân thủ tốc độ tối đa.

Biển P.127d là biển báo hết hạn chế tốc độ tối đa cho phép cho biển các biển P.127b và P.127c.

Biển W.201c và W.201d là biển báo chỗ ngoặt nguy hiểm có nguy cơ lật xe, nhằm mục đích báo trước sắp đến chỗ ngoặt nguy hiểm có khả năng gây lật các xe có trọng tâm cao và tải trọng lớn như xe tải, xe buýt giường nằm, xe chở chất lỏng.

Biển W.215a là biển báo đã được sử dụng từ lâu, còn biển W.215b và W.215c là biển báo mới được Bộ Giao thông Vận tải bổ sung, để báo trước sắp tới những vị trí có kè chắn vực sâu hoặc sông suối ở phía trước hoặc đi sát đường, cần đề phòng tình huống nguy hiểm rơi xuống vực sâu hoặc sông suối (thường có những chỗ ngoặt nguy hiểm). Trong trường hợp đường đã có tường bảo vệ, hộ lan thì có thể sẽ không có biển này.

Biển W.216b cũng là biển mới được bổ sung, đi kèm với biển W.216a đã vận hành từ lâu. Biển W.216b là biển báo “Đường ngầm có nguy cơ lũ quét”, cảnh báo trong trường hợp đường ngầm thường xuyên có lũ quét. Khi cần thiết, có thể có biển phụ có chữ “LŨ” bên dưới biển này.

Việc đi hay dừng khi gặp đèn vàng là vấn đề được nhiều người quan tâm, sau khi có thông tin vượt đèn vàng sẽ bị xử phạt như vượt đèn đỏ. Theo quy chuẩn mới, quy định về đèn vàng gần như không thay đổi so với quy chuẩn cũ. Người tham gia giao thông gặp đèn vàng phải cho xe dừng trước vạch sơn “Vạch dừng xe”. Nếu không có vạch sơn này thì phải dừng phía trước đèn tín hiệu theo chiều đi.

Trường hợp phương tiện đã tiến sát đến hoặc đã vượt qua vạch sơn “Vạch dừng xe”, nếu dừng lại sẽ nguy hiểm thì phải nhanh chóng đi tiếp ra khỏi nơi giao nhau.

Dự án quốc lộ 14 qua Đắk Lắk phải rút ngắn thời gian thu phí

By | Tin Tức, vận tải bắc trung nam | No Comments
Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải cho biết, thanh tra Bộ kiến nghị giảm trừ gần 136 tỉ đồng so với giá trị hợp đồng, rút ngắn thời gian thu phí hoàn vốn gần 4 năm tại dự án quốc lộ 14 qua Đắk Lắk.
Thanh tra Bộ Giao thông vận tải vừa hoàn tất kết luận thanh tra về dự án đầu tư xây dựng quốc lộ 14 đoạn qua Đắk Lắk theo hình thức BOT. Theo một lãnh đạo Bộ này, thanh tra Bộ qua kiểm tra hóa đơn, chứng từ đã xác định giá trị giảm trừ so với hợp đồng BOT ký kết ban đầu là 135,5 tỉ đồng, trong đó riêng chi phí dự phòng tạm tính phải giảm trừ gần 89 tỉ đồng. Trước đó, theo hợp đồng ký kết giữa Bộ Giao thông vận tải và nhà đầu tư là Công ty cổ phần BOT Quang Đức, tổng giá trị đầu tư dự án là 1.800 tỉ đồng. Công trình khởi công tháng 6.2015. Theo phương án tài chính ban đầu, nhà đầu tư được thu phí hoàn vốn 20 năm 2 tháng.
Tuy nhiên, Thanh tra Bộ Giao thông vận tải đã kiến nghị với khoản giảm trừ 135,5 tỉ đồng (so với phương án đầu tư ban đầu), thời gian thu phí hoàn vốn của dự án sẽ được rút xuống là 16 năm 9 tháng (tạm tính).
Dự án quốc lộ 14 qua Đắk Lắk phải rút ngắn thời gian thu phí - ảnh 1

Bộ GTVT vừa công bố quyết định thanh tra 2 dự án BOT là dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cấp, mở rộng QL1A đoạn nam cầu Bến Thủy – tuyến tránh TP.Hà Tĩnh và dự án tuyến tránh TP.Vinh, Nghệ An do Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 (Cienco 4) làm chủ đầu tư.

Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường cho hay, tất cả các dự án BOT sau khi hoàn thành 6 tháng sẽ phải thực hiện rà soát quyết toán lại tổng mức đầu tư, từ đó mới tính ra thời gian thu phí hoàn vốn chính thức.

“Phần thanh tra kiến nghị giảm trừ so với tổng mức đầu tư ban đầu trên thực tế là con số để tính toán, vì tiền không phải của nhà đầu tư mà là vốn vay ngân hàng. Bộ sẽ tính toán lại trước khi thông qua con số chính thức. Không chỉ dự án BOT quốc lộ 14 mà các dự án BOT khác 6 tháng sau khi hoàn thành, nhà đầu tư cũng phải công bố chính thức lại tổng mức đầu tư thực tế và thời gian thu phí hoàn vốn chính thức”, ông Trường nói.
Bên cạnh đó, Thanh tra Bộ cũng chỉ ra nhiều sai sót trong vấn đề góp vốn của nhà đầu tư khi chuyển nhượng cổ phần mà không có văn bản thông báo với Bộ. Thanh tra Bộ cũng yêu cầu Ban quản lý dự án Hồ Chí Minh, nhà thầu phải rà soát khắc phục các tồn tại, báo cáo Bộ trước ngày 30.5.2016.
Trước đó, dự án BOT quốc lộ 14 qua Đắk Lắk từng bị nhiều tai tiếng như nhà thầu BOT Quang Đức tạm giữ 20% của nhà thầu phụ, tiến độ ì ạch… Thậm chí năm 2014, nguyên Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng khi kiểm tra tiến độ dự án đã “đe” sẽ chấm dứt hợp đồng nếu nhà thầu không đẩy nhanh tiến độ.

Công khai suất đầu tư dự án BOT giao thông

By | diễn đàn vận tải, gửi hàng đi hà nội, gửi hàng đi đà nẵng, Tin Tức, vận tải bắc trung nam | No Comments

Bộ Giao thông vận tải vừa công bố tổng mức đầu tư (TMĐT) và suất vốn đầu tư các dự án BOT sau khi tách riêng chi phí lãi vay trong quá trình xây dựng.

Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) Nguyễn Nhật cho biết, từ giữa năm 2014, Bộ GTVT đã tiến hành rà soát tổng mức đầu tư (TMĐT), suất vốn đầu tư, giá xây dựng tổng hợp của tất cả các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT.

Theo kết quả rà soát, TMĐT và suất vốn đầu tư các dự án BOT sau khi tách riêng chi phí lãi vay trong quá trình xây dựng tương tự như các dự án sử dụng vốn Nhà nước và giá xây dựng tổng hợp hạng mục công trình thì tương tự như các dự án vốn Nhà nước và tương đương suất vốn đầu tư và giá xây dựng tổng hợp theo công bố của Bộ Xây dựng.

Cong khai suat dau tu du an BOT giao thong hinh anh 1
Theo kết quả rà soát, TMĐT và suất vốn đầu tư các dự án BOT sau khi tách riêng chi phí lãi vay trong quá trình xây dựng tương tự như các dự án sử dụng vốn Nhà nước. Ảnh: Báo Giao thông

Cụ thể, đối với đoạn quy mô mặt cắt ngang trung bình 20,5m, giá xây dựng tổng hợp ở các dự án BOT khoảng 26,63-33,50 tỷ đồng/km, tại các dự án vốn TPCP khoảng 29,78-37,67 tỷ đồng/km.

Trong khi, theo công bố của Bộ Xây dựng tại Quyết định 439 ngày 26/4/2013 giá xây dựng trung bình khoảng 37,02 tỷ đồng/km. Các đoạn quy mô mặt cắt ngang trung bình 12m, giá xây dựng tổng hợp ở các dự án BOT khoảng 16,51-18,60 tỷ đồng/km.

Tại các dự án vốn TPCP khoảng 18,25-20,75 tỷ đồng/km. Theo công bố của Bộ Xây dựng tại Quyết định 439 của Bộ Xây dựng giá xây dựng khoảng 23,25 tỷ đồng/km.

Đối với các công trình theo hình thức BOT như: Cầu Việt Trì, cầu Thái Hà, cầu Yên Xuân,… giá xây dựng tổng hợp của dầm hộp đúc hẫng khoảng 48-53 triệu đồng/m2 (khẩu độ dầm 90m); nhịp dẫn giản đơn khoảng 17-23 triệu đồng/m2 (dầm Super T khẩu độ 40m).

Tại các dự án vốn TPCP đã duyệt, giá xây dựng tổng hợp của hạng mục tương ứng khoảng 48-59 triệu đồng/m2 (dầm hộp đúc hẫng khẩu độ 90m) và 21-29 triệu đồng/m2 (đối với cầu sử dụng dầm Super T khẩu độ 40m).

Theo công bố của Bộ Xây dựng tại Quyết định số 439, giá xây dựng tổng hợp khoảng 40,44 triệu đồng/m2 (chỉ công bố dầm hộp đúc hẫng khẩu độ <100m) và 30,49 triệu đồng/m2 (đối với cầu sử dụng dầm Super T khẩu độ 40m).

Thứ trưởng Nguyễn Nhật cho biết đây chỉ là cơ sở để bố trí kế hoạch vốn.

“Đối với dự án BOT, tổng mức đầu tư là cơ sở để xác định sơ bộ thời gian hoàn vốn làm cơ sở đàm phán hợp đồng tín dụng và hợp đồng dự án”, Thứ trưởng khẳng định.

Thứ trưởng nêu thực tế, nhiều quy định các bộ, ngành vẫn có cách hiểu khác nhau như chi phí nhân công, phụ cấp không ổn định sản xuất theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng và kết luận Thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

“Từng chủ thể trong quá trình lập và thẩm định TMĐT còn một số tồn tại, nhầm lẫn, sai sót về lựa chọn giá vật liệu, xác định chi phí vận chuyển, tính toán khối lượng….”, Thứ trưởng khẳng định.

Theo quy định của pháp luật về xây dựng, chủ đầu tư có thẩm quyền phê duyệt thiết kế và dự toán. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế.

“Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, năng lực các nhà đầu tư chưa cao có thể là kẽ hở để dẫn đến sai phạm”, thứ trưởng nhấn mạnh.

Để khắc phục thực trạng trên, Bộ GTVT chỉ đạo các nhà đầu tư lựa chọn Viện Kinh tế xây dựng (Bộ Xây dựng) là đơn vị thẩm tra dự toán và việc sử dụng dự phòng phí phải được Bộ GTVT chấp thuận.

“Giờ mà tăng phí thì các doanh nghiệp vận tải biển chỉ có chết!”

By | diễn đàn vận tải, gửi hàng đi hà nội, gửi hàng đi đà nẵng, Tin Tức, vận tải bắc trung nam | No Comments

Các doanh nghiệp vận tải biển đang lo lắng tới “cái chết” nếu tăng phí vào thời điểm này, nhưng quan điểm của lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải (GTVT) là không nên để giá quá thấp để cạnh tranh, vì “như thế là các doanh nghiệp cùng kéo nhau chết”.

Thông tin trên được đưa ra tại Hội nghị trực tuyến đối thoại doanh nghiệp vận tải biển và cảng biển do Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công chủ trì mới đây. Đây là lần thứ 4 Bộ GTVT tổ chức hội nghị này nhằm hỗ trợ, giải quyết những khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp.

Đại diện Hiệp hội vận tải Diêm Điền – Thái Bình bức xúc phản ánh về việc tàu lưu thông trên luồng tuyến bị cơ quan chức năng kiểm tra nhiều và phạt nhiều lỗi quá. Vị này đưa ra dẫn chứng, ví như chuyện tàu treo cờ không đúng cũng bị phạt 3-4 triệu đồng.

“Trong khi hoạt động vận tải biển còn khó khăn, mà chúng tôi cứ bị phạt thế này thì khó mà vực dậy được” – đại diện Hiệp hội vận tải Diêm Điền nói.

Hoạt động vận tải biển đang khó khăn (ảnh: hungnguyenjsc)
Hoạt động vận tải biển đang khó khăn (ảnh: hungnguyenjsc)

Một doanh nghiệp vận tải biển Thái Bình cho hay, việc sửa chữa tàu liên quan đến đăng kiểm các cơ quan chức năng cũng làm gắt quá, bắt lỗi chặt quá. Thực tế, trong thời điểm khó khăn này, doanh nghiệp mong cơ quan quản lý cảm thông cho những lỗi không đáng kể. Cái gì thuộc về an toàn thiết yếu thì làm kỹ, còn cái gì mang tính màu mè thì thôi.

Tại hội nghị, lãnh đạo Công ty cổ phần Vận tải biển Vinafco lo lắng về vấn đề phí và lệ phí: “Năm 2016, các doanh nghiệp vận tải biển vô cùng khó khăn do giá cước vận chuyển sụt giảm mạnh. Giờ mà tăng phí thì các doanh nghiệp vận tải chỉ có chết”.

Trước thắc mắc về phí và lệ phí cảng biển, Thứ trưởng Nguyễn Văn Công thẳng thắn trao đổi: Giá vận tải biển chênh lệch nhau khá nhiều vì liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp cảng, vận tải. Bản thân doanh nghiệp cảng cũng kêu nhiều do cạnh tranh không lành mạnh, tự hạ giá thành để lấy khách.

Theo Thứ trưởng nguyễn Văn Công, nếu đưa giá xếp dỡ thấp thì là hại nhau, trong khi đó có những phần thu khác lại cao. Nếu ta cứ dìm nhau xuống thì doanh nghiệp nước ngoài lại được lợi, chứ không phải doanh nghiệp trong nước.

“Giá cước là giá thị trường, chúng tôi không được phép can thiệp nên không thể xây dựng giá tối đa. Song theo quan điểm của tôi không nên để giá quá thấp để cạnh tranh, như thế là các doanh nghiệp cùng kéo nhau chết” – Thứ trưởng phân tích.

Lãnh đạo Bộ GTVT cũng khẳng định, thời điểm này các doanh nghiệp vận tải biển đang khó khăn nên các loại phí và lệ phí sẽ không tăng. Bộ GTVT sẽ phân chia ra làm sao cho việc áp dụng dễ hơn.

“Trước đây, đối với phương tiện thuỷ nội địa mà vào cảng biển phải nộp phí theo cảng biển, nhưng nay chúng tôi đã kiến nghị với Bộ Tài Chính về việc này, hy vọng Bộ Tài chính sẽ thông qua đề xuất của Bộ GTVT là phương tiện thuỷ nội địa mà vào cảng biển, thì sẽ tính phí như đường thuỷ nội địa. Về thủ tục cảng biển, Bộ cũng đã cố gắng tháo gỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bằng cách nếu tàu chuyển từ bến này sang bến kia trong cùng một cảng biển, từ nay sẽ không phải làm thủ tục hải quan nữa” – Thứ trưởng Công cho hay.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cũng cho biết thêm, những kiến nghị của doanh nghiệp mà thuộc thẩm quyền của Bộ GTVT thì Bộ giải đáp trực tiếp giải quyết, kiến nghị nào nằm ngoài thẩm quyền của Bộ GTVT thì Bộ sẽ kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan có những chính sách, giải pháp phù hợp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và tạo môi trường kinh doanh công bằng nhất cho các doanh nghiệp.

Quảng Ninh “khơi thông” huyết mạch giao thông

By | diễn đàn vận tải, vận tải bắc trung nam | No Comments

Xác định hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ là một nút thắt căn bản cần được tháo gỡ, thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã tập trung huy động mọi nguồn lực để “khơi thông” nút thắt.

Xác định hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ là một nút thắt căn bản cần được tháo gỡ, từ đó tạo đà cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã tập trung huy động mọi nguồn lực để “khơi thông” nút thắt này.

Hầu hết các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ của Quảng Ninh đã được đầu tư nâng cấp. Ảnh: Vũ Văn Đức-TTXVN

Theo ông Bùi Hồng Minh, Phó giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Ninh, với việc đặt nhiệm vụ đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ lên nhóm đầu trong 3 khâu đột phá chiến lược mà tỉnh đã đề ra, trong 5 năm vừa qua, Quảng Ninh đã huy động nhiều nguồn lực để đầu tư.

Cho đến nay, hầu hết các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ đã được đầu tư nâng cấp đáp ứng nhu cầu giao thông, nhất là từ năm 2013 đến nay, hạ tầng giao thông của Quảng Ninh đã có những khởi sắc với nhiều công trình được xây dựng.

“Đặc biệt, trong thu hút đầu tư vào các công trình giao thông trọng điểm sử dụng vốn ngoài ngân sách đã được tỉnh Quảng Ninh triển khai rất hiệu quả, đây là hướng đi tất yếu trong điều kiện hiện nay.

Hiện Quảng Ninh được đánh giá là tỉnh đứng đầu trong các địa phương thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách vào đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông và là tỉnh đầu tiên được Chính phủ giao làm đường cao tốc bằng vốn xã hội hóa”, ông Bùi Hồng Minh cho hay.

Về kinh nghiệm thu hút vốn ngoài xã hội vào đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, ông Bùi Hồng Minh chia sẻ: “Quảng Ninh sẽ không thể đạt được những kết quả đó nếu không có sự chủ động, quyết liệt trong việc huy động nguồn lực. Sự chủ động, quyết liệt ấy của tỉnh thể hiện từ quyết tâm đi đầu, làm việc khó, từ khâu xác định dự án đầu tư, lĩnh vực đầu tư, đến việc bám sát quy hoạch, kêu gọi nhà đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai…”.

Công trường thi công cầu vượt biển thuộc dự án cao tốc Hạ Long – Hải Phòng. Ảnh: Quang Toàn/BNEWS/TTXVN

Nhờ thu hút được nguồn lực này mà đến nay Quảng Ninh được ví như một “đại công trường”, khi khu vực miền Tây đang sôi động với các dự án cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, dự án đường Bắc Ninh – Uông Bí; khu vực miền Đông đang cũng tấp nập với những dự án được xem sẽ là động lực phát triển cho khu kinh tế Vân Đồn như: Cảng hàng không Quảng Ninh, đường dẫn và cầu Bắc Luân II; còn khu vực trung tâm của tỉnh là tuyến cao tốc xuyên suốt Hạ Long – Vân Đồn với số vốn đầu tư kỷ lục đạt hơn 12.000 tỷ đồng từ nguồn vốn xã hội hóa…

Với quyết tâm hoàn thành các công trình đúng tiến độ, hiện các nhà thầu thi công đang tập trung tăng tốc; trong đó, dự án cao tốc Hạ Long – Hải Phòng sẽ phấn đấu hoàn thành trong năm 2017.

Đây là công trình giao thông trọng điểm, có tính chất động lực, liên kết Quảng Ninh với vùng kinh tế phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh).

Theo ông Trương Trọng Quang, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án đường nối thành phố Hạ Long với cầu Bạch Đằng, đây là tuyến cao tốc đầu tiên của tỉnh, vì thế đang được khẩn trương thi công, hiện dự án đã đạt trên 70% khối lượng công việc.

Để phát huy lợi thế, thu hút đầu tư cho Khu Kinh tế Vân Đồn, tuyến cao tốc Hạ Long – Vân Đồn và Cảng hàng không Quảng Ninh cũng đang trong giai đoạn tích cực triển khai, hầu hết các gói thầu của 2 dự án được thi công đồng loạt. Diện mạo tuyến cao tốc hiện đại và Cảng hàng không đang hình thành, dự kiến hoàn thành trong năm 2018.

Bên cạnh tập trung cho những dự án mới, tỉnh cũng đang nâng cấp mở rộng hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, như: Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 18 (đoạn Bắc Ninh – Uông Bí, Hạ Long – Mông Dương).

Theo ông Ngô Văn Vịnh, Phó Giám đốc Công ty cổ phần BOT Phả Lại (doanh nghiệp dự án), mặc dù đang gặp nhiều khó khăn trong giải phóng mặt bằng, nhưng với quyết tâm của chủ đầu tư và tỉnh Quảng Ninh, dự án sẽ cố gắng hoàn thành vào năm 2017.

Thi công dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 18, đoạn Hạ Long – Mông Dương. Ảnh: Vũ Văn Đức-TTXVN

Cùng với hơn 300 km tỉnh lộ và 2.000 km đường liên huyện, liên xã, nhiều dự án, công trình giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh đã được hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả sau đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương của người dân trong tỉnh cũng như với các tỉnh trong khu vực.

Song song với đầu tư hạ tầng đường bộ, hàng không, phát triển giao thông đường biển cũng được Quảng Ninh đầu tư mạnh mẽ. Đó là hệ thống cảng khách phục vụ phát triển du lịch được đầu tư nâng cấp hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Điển hình là Cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu với tổng mức đầu tư 10.000 tỷ đồng đã khẳng định được thế mạnh, là điểm nhấn trong bức tranh du lịch Quảng Ninh, cửa ngõ của Vịnh Hạ Long.

Giám đốc Cảng vụ Đường thuỷ nội địa Quảng Ninh, Lê Hồng Thắng cho hay, để phát triển du lịch ra các tuyến đảo, song song với việc đầu tư mới bến tàu khách Cái Rồng (huyện Vân Đồn), thời gian qua các cảng, bến tàu  khách tại các xã đảo đều được củng cố, nâng cấp an toàn và thuận lợi hơn; đáp ứng yêu cầu kết nối, thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ – du lịch thành chuỗi liên kết bền vững.

Để hạ tầng giao thông của Quảng Ninh tiếp tục phát huy vai trò là ngành đi trước đón đầu, tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa hồi tháng 7 vừa qua, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đề nghị Bộ Giao thông Vận tải có chủ trương ưu tiên đầu tư sớm 3 dự án: cầu vượt Loong Toòng, mở rộng nâng cấp Quốc lộ 4B, mở rộng nâng cấp Quốc lộ 279.

Bên cạnh đó, tỉnh đề nghị Bộ Giao thông Vận tải đồng thuận và báo cáo Chính phủ tiếp tục giao cho Quảng Ninh là cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hút đầu tư dự án cao tốc Vân Đồn – Móng Cái theo hình thức BOT.

Cùng với đó là một số nội dung liên quan đến việc mở rộng, đầu tư hệ thống đường sắt, cảng biển; tăng cường quản lý tàu khách tham quan trên Vịnh Hạ Long; có cơ chế để nhà đầu tư quản lý khai thác Cảng hàng không Quảng Ninh…

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, nếu “khơi thông” huyết mạch giao thông, Quảng Ninh không chỉ khai thác triệt để lợi thế về địa kinh tế, mà còn góp phần phát huy tốt các tiềm năng thế mạnh khác của hơn 500 danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử được xếp hạng; trong đó có di sản – kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, tạo cơ hội để phát triển dịch vụ du lịch, nhất là phát triển công nghiệp giải trí.

Giao thông phát triển giúp việc đưa đón thuận lợi hơn du khách trong và ngoài nước đến với Quảng Ninh./.